Nền tảng và động lực tăng trưởng mới

22:15 - 27/05/2026

Với quan điểm Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị không đơn thuần là chủ trương về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, mà là văn kiện quan trọng về mô hình phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.
 

Sản xuất linh kiện điện tử tại Công ty TNHH Rhythm Precision Việt Nam (Khu công nghiệp Nội Bài). Ảnh: Quang Thái
Thời gian qua, Hà Nội đã quán triệt sâu sắc và xác định, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chính là đòn bẩy, là nền tảng phát triển, động lực tăng trưởng và là công cụ đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cả hệ thống chính trị.
 
1. Đổi mới mô hình phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn Hà Nội thời gian qua đã được xác lập cụ thể, có hệ thống, phù hợp với thực tiễn Thủ đô.
 
Thứ nhất, Hà Nội đã xây dựng đồng bộ hệ thống thể chế nền tảng theo hướng “thí điểm - tổng kết - luật hóa”. Nổi bật là Hà Nội đã không chờ Luật Thủ đô được sửa đổi xong mới triển khai, mà chủ động đề xuất Quốc hội ban hành Nghị quyết thí điểm trước, sau đó tổng kết thực tiễn để Quốc hội luật hóa thành Luật Thủ đô năm 2026.
 
Cụ thể, các văn bản quan trọng theo trình tự thời gian gồm Luật Thủ đô số 39/2024/QH15 - khung pháp lý đặc thù nền tảng đầu tiên, có hiệu lực từ ngày 1-1-2025. Tiếp đó, Nghị quyết số 258/2025/QH15 ngày 11-12-2025 của Quốc hội - đây là bàn đạp thực tiễn do Hà Nội chủ động đề xuất, thí điểm cơ chế đặc thù về đầu tư, quy hoạch, đô thị, đất đai, tài chính cho các dự án lớn, quan trọng.
 
Đặc biệt, Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17-3-2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô trong kỷ nguyên mới - là chủ trương chính trị cao nhất cho Thủ đô. Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 thông qua ngày 23-4-2026, là bước tiến luật hóa trên cơ sở thực tiễn Nghị quyết số 258/2025/QH15, mở rộng cơ chế đặc thù sang khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và thu hút nhân tài. Bên cạnh đó, Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm đã xác lập Hà Nội phát triển theo mô hình chùm đô thị, đa cực, đa trung tâm, lấy sông Hồng làm trục cảnh quan trung tâm.
 
Thứ hai, thành phố xác lập mô hình tăng trưởng mới theo cấu trúc “3 trụ cột - 5 động lực - 4 không gian phát triển”. Trong đó, ba trụ cột gồm: Đổi mới sáng tạo - năng suất - kinh tế số; tăng trưởng xanh - kinh tế tuần hoàn - phát thải thấp; liên kết vùng - hạ tầng hiện đại - đô thị đa trung tâm. Năm động lực tăng trưởng mới gồm: Thể chế - quản trị; khoa học, công nghệ - đổi mới sáng tạo - chuyển đổi số; công nghiệp văn hóa; khai thác dư địa tăng trưởng của các ngành kinh tế; khai thác không gian quy hoạch đa cực - đa trung tâm - đa tầng - đa lớp. Bốn không gian phát triển gồm: Không gian đổi mới sáng tạo - tri thức; không gian công nghiệp công nghệ cao và logistics; không gian đô thị xanh, mô hình phát triển đô thị định hướng giao thông công cộng (TOD), giao thông công cộng; không gian liên kết vùng và hành lang kinh tế.
 
Đáng chú ý, theo Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Xuân Lưu, thành phố thực hiện đồng thời 3 chuyển dịch: Từ tăng trưởng dựa vào vốn sang dựa vào năng suất; từ đầu tư công sang đầu tư tư nhân; từ ngành truyền thống sang ngành dựa vào tri thức.
 
Cụ thể, thành phố chuyển từ tăng trưởng dựa vào vốn sang tăng trưởng dựa vào năng suất, với mục tiêu nâng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt 57% năm 2030, giảm hệ số ICOR (hiệu quả sử dụng vốn đầu tư) từ 6,65 (giai đoạn 2021-2025) xuống còn khoảng 5,5. Thành phố chuyển từ đầu tư công sang đầu tư tư nhân, ngân sách nhà nước chuyển vai trò sang vốn mồi, mỗi đồng vốn ngân sách phải kéo theo bội số đầu tư tư nhân, hướng tới mục tiêu vốn đầu tư xã hội 5 triệu tỷ đồng giai đoạn 2026-2030...
 
Thứ ba, về nguồn lực, năm 2026, thành phố bố trí hơn 9.090 tỷ đồng cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số và hiện đã phân bổ hơn 2.529 tỷ đồng (đạt 27,82% kế hoạch). Đồng thời, thành phố đã ban hành 7 đợt quyết định bổ sung kinh phí với tổng số hơn 1.001 tỷ đồng từ nguồn điều hành tập trung. Đây là mức đầu tư lớn nhất cho lĩnh vực này từ trước đến nay.
 
Về hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ, đến quý I-2026, thành phố có 221 doanh nghiệp khoa học, công nghệ (dẫn đầu cả nước); trên 1.000 doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, chiếm trên 26% cả nước và 10.996 doanh nghiệp công nghệ số. Đặc biệt, trên cơ sở đánh giá tiềm năng và lợi thế Thủ đô, thành phố chủ động đặt mục tiêu cao hơn mục tiêu cả nước.
 
Cụ thể, kinh tế số đạt tối thiểu 22% GRDP năm 2026 và tối thiểu 40% GRDP vào năm 2030, cao gấp rưỡi mục tiêu quốc gia. Việc Hà Nội chủ động đặt mục tiêu cao hơn thể hiện quyết tâm chính trị cao, đồng thời tạo áp lực nội tại đòi hỏi cả hệ thống chính trị đổi mới mạnh mẽ hơn. Mục tiêu này cũng là cơ sở để thành phố Hà Nội ban hành các cơ chế, chính sách và bố trí nguồn lực tương xứng, không dàn trải.
 
2. Một bước tiến rất đáng kể trong đổi mới mô hình phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là trong thời gian qua, Hà Nội đã hình thành các mô hình, cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả có thể nghiên cứu nhân rộng ra toàn quốc.
 
Phó Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Xuân Lưu cho biết, Hà Nội đã hình thành 7 mô hình, cách làm mới chứng minh rõ hiệu quả trong thực tiễn. Cụ thể gồm: Quản trị công việc theo mục tiêu và kết quả then chốt (OKR/KPI) trong khu vực công; công bố Danh mục 30 bài toán lớn của Thủ đô; hợp tác “4 Nhà” thực chất (Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp - Tổ chức tài chính); mô hình Công ty cổ phần có 30% vốn xã hội hóa trong tổ chức Trung tâm đổi mới sáng tạo Hà Nội; hợp tác quốc tế đột phá về bán dẫn và công nghệ cao; chiến lược thu hút chuyên gia, trí thức người Việt ở nước ngoài; các điều kiện để Khu công nghệ cao Hòa Lạc trở thành trung tâm khoa học, công nghệ khu vực.
 
Nổi bật trong đó là danh mục 30 bài toán lớn của Hà Nội phục vụ định hướng xây dựng và phát triển Thủ đô trong kỷ nguyên mới. Đây là cách làm chưa có tiền lệ, mỗi bài toán được thành phố thiết kế dưới dạng “câu hỏi chiến lược” thay vì nhiệm vụ hành chính cụ thể; đồng thời công khai tìm lời giải từ toàn xã hội - các viện nghiên cứu, trường đại học, chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp trong và ngoài nước...
 
Danh mục các bài toán lớn được cấu trúc thành 4 nhóm: Nhóm về các điểm nghẽn đô thị kéo dài (gồm 5 bài toán về ùn tắc giao thông, vệ sinh đô thị, ô nhiễm, ngập úng, an toàn thực phẩm). Nhóm về không gian đô thị gồm 4 bài toán. Nhóm về kiến tạo tăng trưởng kinh tế và làm chủ công nghệ, gồm 16 bài toán. Nhóm về an ninh, an sinh và phát triển bền vững, gồm 5 bài toán. Cách tiếp cận nêu trên thay đổi căn bản phương thức tổ chức hoạt động khoa học, công nghệ, đó là chuyển từ “cấp kinh phí theo đề tài” sang “đặt hàng giải quyết bài toán thực tiễn”.
 
Trung tâm đổi mới sáng tạo Hà Nội theo mô hình công ty cổ phần cũng là một điểm nhấn. Cơ cấu sở hữu của Công ty theo mô hình “kiềng ba chân”: Thành phố nắm giữ 70%, Tập đoàn Công nghệ CMC và Đại học Bách khoa Hà Nội (HUST) mỗi bên nắm giữ 15%. Vốn điều lệ giai đoạn đầu khoảng 100 tỷ đồng và mục tiêu hình thành Quỹ đổi mới sáng tạo quy mô trên 500 tỷ đồng giai đoạn 2031-2035 làm vốn mồi cho các dự án khởi nghiệp. Đây là mô hình tổ chức chưa có tiền lệ, hoạt động theo mô hình “Nhà nước định hướng - Doanh nghiệp vận hành - Nhà trường cùng sáng tạo”...
 
3. Có thể thấy, trong đổi mới mô hình phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, thành phố đã, đang chuyển căn bản từ “quản lý theo quy trình” sang “quản trị theo kết quả”. Đây là thay đổi mang tính cách mạng trong phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành. Mô hình OKR/KPI là minh chứng rõ nét nhất, thay vì tập trung kiểm tra việc tuân thủ quy trình, thành phố đo lường giá trị thực chất mà mỗi cơ quan, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tạo ra. Cách làm này khắc phục được căn bệnh báo cáo hình thức đã tồn tại lâu nay.
 
Đặc biệt, trong thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, thành phố chuyển từ “cấp kinh phí theo đề tài” sang “đặt hàng giải quyết bài toán thực tiễn”. Cách làm đột phá này khuyến khích nghiên cứu gắn với ứng dụng, khắc phục được tình trạng “nghiên cứu xếp ngăn kéo” lâu nay.
 
Bên cạnh đó, thành phố chuyển từ “Nhà nước tự làm” sang mô hình “4 Nhà thực chất” với vai trò vốn mồi của Nhà nước. Trung tâm đổi mới sáng tạo Hà Nội theo mô hình công ty cổ phần là điển hình. Cách tiếp cận này phù hợp tinh thần tinh giản bộ máy, đồng thời huy động được nguồn lực và năng lực quản trị của khu vực tư nhân cho các mục tiêu công.
 
Hà Nội xác định đổi mới mô hình phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là yêu cầu lịch sử, là nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ và nhân dân Thủ đô trong kỷ nguyên mới. Thành phố cam kết chủ động triển khai sớm, quyết liệt các mô hình và cơ chế mới; tận dụng triệt để các thể chế vượt trội và bộ máy hành chính tinh gọn để trở thành nơi thử nghiệm trước các cơ chế, chính sách mới của Trung ương.

Các bài viết khác